Thái học sinh Nguyễn Biểu ( ? - 1413)
Nguyễn Biểu ( ? - 1413) quê Yên Hồ, đậu Thái học sinh khoảng cuối triều Trần đầu triều Hồ, có sách nói ông đỗ khoa thi Canh Thìn năm 1400 cùng khoa với Nguyễn Trãi. Ông giữ chức Điện tiền thị ngự sử, giúp rập Trần Trùng Quang dựng kinh đô Bình Hồ (1409-1413). Ông đã hi sinh oanh liệt trong cuộc chiến chống quân Minh xâm lược. Hiện đền thờ ông ở xã Yên Hồ-Đức Thọ và đã được Bộ Văn hoá công nhận di tích LSVH cấp Quốc gia năm 1991.
Sứ giả Nguyễn Biểu đã từng ăn thịt người?!
Nguyễn Biểu (?- 1413) là tướng nhà Hậu Trần trong lịch sử Việt Nam, quê ở quê làng Bình Hồ, huyện La Sơn, trấn Nghệ An (nay thuộc xã Yên Hồ, Đức Thọ, Hà Tĩnh).
Thân thế của Nguyễn Biểu sử sách chỉ chép là người làng Bà Hồ, huyện Chi La (nay là xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh) không chép ngày tháng năm sinh cha mẹ là ai, làm gì. Ông đỗ Thái học sinh thời Trần, đã từng theo giúp vua Trùng Quang nhà Hậu Trần từ những ngày đầu mới lên ngôi, lấy đất Bà Hồ, huyện Chi La làm căn cứ tổ chức cuộc kháng chiến chống giặc Minh. Lúc bấy giờ lực lượng kháng chiến của Giản Định đế Trần Ngỗi đã suy yếu, Trùng Quang đế đã tìm cách đưa Trần Ngỗi về Bà Hồ tôn làm Thái Thượng hoàng thống nhất lực lượng kháng chiến. Từ đó Bà Hồ chỉ còn lại lực lượng nhỏ, còn Thượng Hoàng và nhà vua cùng các tướng đều đưa quân ra trận, thời gian này nghĩa quân lúc tiến ra Bắc lúc lui về Diễn Châu, Nghệ An, nhưng sau trận thua ở Thần Đầu vào năm 1412 nghĩa quân bị tổn thất nặng. Quân Minh chiếm Thanh Hoa, Diễn Châu và thành Nghệ An, vua Trùng Quang phải rút vào giữ vùng Tân Bình Thuận Hoá và sai Nguyễn Biểu đi sứ cầu phong ở thành Nghệ An tìm kế hoà hoãn chờ đợi thời cơ.
Về việc đi sứ và cái chết của ông, Đại Việt sử ký Toàn thư chỉ chép: “Mùa hạ tháng 4 năm Quý Tỵ (1413) bọn Trương Phụ nhà Minh đánh mạnh vào Nghệ An, vua chạy về Châu Hoá sai Đài quan là Nguyễn Biểu làm sứ cầu phong mang sản vật địa phương đến Nghệ An. Trương Phụ giữ lại, Biểu tức giận mắng rằng: Trong bụng đánh lấy nước bên ngoài giả làm quân nhân nghĩa đã hứa lập con cháu nhà Trần lại đặt quận huyện không những chỉ cướp lấy vàng bạc châu báu còn giết hại nhân dân, thực là giặc tàn ngược lắm. Phụ giận lắm đem ra giết”. Còn trong sách “Nghĩa Sĩ truyện” thì chép rằng: “Khi tới trước quân Trương Phụ, bọn giặc bắt ngài lạy. Ngài đứng trơ không nhúc nhích. Nhân thế giặc đặt tiệc thết, nấu một đầu người mà mời, cốt để cho rõ ý ngài. Ngài tức thì lấy đũa khoét hai mắt, hoà với dấm mà nuốt”. Trong bản chép tay kèm ở trong gia phả họ Nguyễn có thêm: “Lúc bày tiệc ra ngài cười mà nói: “Đã mấy lúc người Nam lại được ăn đầu người Bắc”. Trương Phụ hay tin cảm phục đối xử tử tế rồi cho ông về, nhân đó Phụ hỏi viên hàng thần Phan Liêu: “Nguyễn Biểu là người thế nào?” Liêu vốn có hiềm khích với ông bèn nói: “Người ấy là hào kiệt ở An Nam, Ngài muốn lấy nước Nam mà không có người này thì việc thành sao được”. Phụ sai người theo bắt ông lại hòng uy hiếp mua chuộc nhưng khi Nguyễn Biểu bị dẫn đến trước dinh, Trương Phụ bắt ông lạy ông vẫn đứng thẳng không hề run sợ. Ông nói: Ta là tôi vua phương Nam, ngươi là tôi vua đất bắc, là bề tôi cả sao lại bắt nhau quỳ được? Phụ mắng ông vô lễ ông bèn vạch âm mưu và tội ác của giặc. Phụ tức giận sai quân đưa ông ra trói dưới cầu Yên Quốc (tức cầu Lam, một nhánh sông Lam chảy giữa hai làn Vệ Chánh và Quang Dụ xưa) cho nước lên dìm chết. Ông lấy móng tay vạch vào cột cầu 8 chữ: “Thất nguyệt, sơ nhất nhật, Nguyễn Biểu tử” (ngày mồng 1 tháng 7 Nguyễn Biểu chết). Trương Phụ giết ông nhưng phải ngầm kính phục cho đưa thi hài về Bình Hồ an táng. Vua Trùng Quang được tin ông tử tiết hết sức thương xót sai làm văn Dụ tế, nhà sư chùa Yên Quốc cũng soạn bài văn làm lễ cầu siêu cho ông. Nguyễn Biểu vị sứ giả của dân tộc đã hy sinh anh dũng trong cuộc kháng chiến chống xâm lược nhà Minh. Tiết tháo của Nguyễn Biểu thật là lẫm liệt, trước giặc giữ lòng chỉ nghĩ đến vua, trước vận suy của nước vẫn làm rạng danh quốc thể.
Nhân dân miền Nghệ Tĩnh lập miếu thờ, suy tôn ông là Nghĩa vương. Các triều đại sau cũng truy phong ông làm Phúc thần. Hiện nay, tại xã Yên Hồ, huyện Đức Thọ có đền thờ Nguyễn Biểu được xây dựng vào thời Nhà Lê để tưởng nhớ công lao của ông .
Từ năm 1941, tác giả Hoàng Xuân Hãn đã công bố trong Khai trí tiến đức, tập san số 2 và 3, mấy bài thơ Nôm đời Hậu-Trần được gom trong Nghĩa sĩ truyện: một bài của vua Trùng Quang (1409-1413) tặng Nguyễn Biểu khi lĩnh mạng đi sứ, bài họa lại và sau đó là bài thơ bữa tiệc "đầu người" của Nguyễn Biểu khi bị giặc làm áp lực, bài tế Nguyễn Biểu của vua Trùng Quang và bài tụng chí khí của Nguyễn Biểu do sư chùa Yên Quốc làm ra.
Vua Trần Trùng Quang làm bài thơ
Tiễn Nguyễn Biểu Đi Sứ:
Mấy vần thơ cũ ngợi hoàng hoa
Trịnh trọng rầy nhân dựng khúc ca
Chiếu phượng mười hàng tơ cãn kẽ
Vó câu ngàn dặm tuyết xông pha
Tang bồng đã bấm lòng khi trẻ
Khương quế thêm cay tính tuổi già
Việc nước một mai công ngõ vẹn
Gác lân danh tiếng dọi lầu xa...
Bài họa Của Nguyễn Biểu:
Tiếng ngọc từ vâng trước bệ hoa
Ngóng tai đồng vọng thuở thi ca
Đường mây vó ký lần lần trải
Ải tuyết cờ mao thức thức pha
Há một cung tên lồng chí trẻ
Bội mười vàng sắt đúc gan già
Hổ mình vả thiếu tài chuyên đối
Dịch lội ba ngàn dám ngại xa.

Thầy Trần Quốc Thường và cô Hoàng Thị Thạch Liên bên mộ Nguyễn Biểu.
Thầy trò trường THCS Nguyễn Biểu trong lễ khánh thành mộ Nguyễn Biểu.
Viếng mộ Nguyễn Biểu. (Do thầy Trần Quốc Thường soạn và đọc trong ngày lễ)
Vật bản hồ thiên.
Nhân bản hồ tổ.
Ai ai phụ mẫu,
Sinh ngã cù lao.
Tất cung kính chi
Duy tang dữ tử.
Quê ta:
Chữ Đức rạng ngời - Dăm Đục – Cồn Trong có tự bao giờ.
Việc học rỡ ràng - Dăm Bút –Dăm Nghiên còn đó.
Đất Ba Hồ là đất địa linh.
Chốn Chi La là nôi khoa cử.
Nơi này đã sinh ra Nguyễn Biểu tiên sinh.
Chính Người làm rạng danh quê cha đất tổ.
Nhớ Người xưa:
Dáng dấp nho sinh, học chữ thánh hiền, Người có tên trên bia đá bảng vàng.
Tính tình cương trực, giúp rập Trùng Quang, Người được vua phong Điện tiền ngự sử.
Hồi ấy:
Giặc Minh xảo trá, uốn lưỡi lừa dối dân đen.
Trương Phụ bạo tàn, vung gươm sát tàn con đỏ.
Kẻ chết ngậm oan.
Người còn sống dở.
Nhớ khi:
Trùng Quang đế lo mưu đại sự, tìm kế cầu phong
Bậc lương thần không kể gian nguy, quyết vào hang hổ.
Vua tin tưởng đọc bài thơ tiễn, lòng vẫn lo lành ít dữ nhiều.
Ngài trung thành hoạ khúc thi tiên, dạ vẫn vui, trổ tài thi thố.
Trương Phụ gian thâm, phùng mang trợn mắt, mở tiệc đầu người.
Phan Liêu đớn hèn, lẫm lét vẩy đuôi, thua loài dê chó.
Anh linh của Người tuy đã về trời,
Danh hiệu của Người còn lưu mọi chổ.
Nhớ hoài hồn thơ khí khái, Sơn Thành lớp lớp mây bay.
Khôn nguôi tiếng chửi căm hờn, Lam Giang ào ào sóng vỗ.
Quê ta bao cơn dâu bể, đổi mới đi lên, chính nhờ Đảng - Bác dẫn đường.
Mảnh đất này mấy độ binh đao, trở lại thái bình, còn ơn Đại vương che chở.
Công đức của Người chua chút báo đền.
Mơ ước chúng con hôm nay mới rõ.
Mọi người gần xa, của ít lòng nhiều, lo tu sửa đền thờ.
Con cháu khắp nơi, gom góp của tiền, mong dựng xây phần mộ.
Hôm nay nhân ngày giổ của Người,
Cũng là ngày khánh thành lăng mộ:
Như chim nhớ cành, trăm nẻo bay về làng Yên Phúc, lối ngõ ríu rít nói cười.
Như cây nhớ cội, muôn phương tìm đến đất Nội Diên, đường xá dập dìu xe cộ.
Miếu Nghĩa sỹ khói toả, hương bay.
Dăm Đồng Bè trống dong, cờ mở.
Thật là:
Bình thuỷ tương phùng, kẻ đón hân hoan.
Long vân tụ hội, người về hớn hở.
Trăm lạy nhớ thương, bên lăng tẩm Người, con cháu xin thề,
Cúi đầu thành kính, trước mộ phần Người, thầy trò xin cố:
Tay nắm tay đoàn kết một lòng, đặt dân an, dân chủ lên trên.
Dạ dặn lòng, trọng đạo tôn sư, mong dân trí, dân tình tiến bộ.
Trời cao ngó xuống, đất dày trông lên
Nghĩa sỹ thiêng liêng, xin về phù hộ:
Giúp non sông diệt ác trừ tham,
Cứu quê hương, xoá nghèo giảm khổ.
Chúng con lòng thành hữu dư,
Lễ lạt đơn sơ, thất thố.
Việc làm, lời nói có sai
Mong lượng bề trên rộng mở.
(Trần Quốc Thường)
Thôn 5 –Yên Hồ -Đức Thọ -Hà Tĩnh
Trần Quốc Thường @ 07:48 11/10/2011
Số lượt xem: 1509
- Giới thiệu vài nét về học giả Hoàng Xuân Hãn. (11/10/11)
- Phan Đình Giót (18/03/11)
- Trần Phú (25/12/10)
- Nguyễn Du (25/12/10)
Các ý kiến mới nhất